Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất – Ngữ văn lớp 11

Bạn đang xem: Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất – Ngữ văn lớp 11 tại Giới Trẻ Đề bài: Phân tích “Văn …

Bạn đang xem: Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất – Ngữ văn lớp 11 tại Giới Trẻ

Đề bài: Phân tích “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu để thấy đây là hình tượng bi tráng của người nghĩa sĩ nông dân đánh giặc Pháp từ những ngày đầu chúng xâm lược nước ta.

Bài giảng: Nghĩa sĩ Cần Giuộc (Phần 2: Tác phẩm) – Cô Thúy Nhàn (GV )

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho yêu nước cuối thế kỷ 19. Cuộc đời anh đầy bất hạnh. Nhưng với nghị lực phi thường, ông đã trở thành tám tấm gương sáng về nhiều mặt…” Với nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một hình tượng bi tráng của người nghĩa sĩ nông dân đánh giặc Pháp cuối thế kỷ 19. “. Đánh giá trên rất xứng đáng với thành công của tác phẩm. Hơn một thế kỷ, đọc lại áng văn thiêng liêng ấy, ai không rưng rưng cảm xúc, bởi “nước mắt anh hùng” có bao giờ cạn?

Mở đầu tác phẩm, tác giả than thở:

Ồ ồ! Súng nổ kinh thiên; lòng người lộ!

Đó là hoàn cảnh, là bối cảnh để Nguyễn Đình Chiểu xây dựng tượng đài bất tử. Đất nước bị xâm lược. Súng giặc rền vang khắp sông núi. Kẻ thù hung dữ đã đến. Xã Tắc chao đảo trước “tàu sắt, tàu đồng, súng ống”, có lẽ, chính là lúc này:

Bến Nghé tiền tan bong bóng

Tranh ngói Đồng Nai nhuốm màu mây

Đó cũng là lúc:

Ra khỏi nhà, lũ trẻ bỏ chạy

Mất tổ của chim ác là

(Chạy Tây – Nguyễn Đình Chiểu)

Từ tình cảnh tang thương, ly tán, đau thương này, lòng người sáng ngời giữa trời xanh!

Họ là ai?

Họ không phải là những học giả, học giả, cũng không phải những đại gia được vua, nước ban phúc. Họ chỉ là những người:

Mồ côi làm ăn, lo nghèo đói

… Chỉ biết chăn trâu, sống ở làng quê

Cái cuốc, cái cày, cái bừa, cái cấy, đã quen tay làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng nhìn

Họ hoàn toàn là nông dân, nông dân 100% chưa từng bước chân ra khỏi lũy tre làng quanh năm! Hơn nữa, họ cũng là nông dân nghèo, rất nghèo. Hai chữ “mồ côi” của lão Đỗ buồn làm sao! Nghĩa là ngày thường, nhưng những tháng năm dài ấy, chúng không “bầy đàn” như sự mạo danh vua chúa. Một đời, nhiều kiếp, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời! Tuy nhiên, chính những người bị bỏ rơi này lại là những người đầu tiên đứng lên, kể cả khi họ không phải quân nhân hay quân cảnh. Họ chỉ vì đại nghĩa mà quy tụ dưới cờ.

Trận đấu lớn, ai có thể chặt rắn đuổi hươu

Hai mặt trời và mặt trăng chói lọi, đâu dùng lũ dê chó.

Với hai câu đối trên, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã cho ta thấy họ thực sự là những nghĩa sĩ, những người có trọng trách với đất nước, những người mang trong mình dòng máu bất khuất. Vì vậy, chính họ đã quyết định “Phen này xin thử phá cho bằng được… Chuyến này đi hàng cọp”.

Đó là suy nghĩ của Triệu Thị Trinh, của Đại vương Phùng Hưng, người đã từng xẻ cá kình ở biển Đông, bắt cọp trong lịch sử sâu xa của dân tộc.

Nhưng Bác Đồ Bến Tre vẫn không quên họ là những người dân chân đất với tấm lòng căm thù giặc đến tận xương tủy:

Hôm thấy bong bóng bọc lốp xe muốn đến ăn gan

Hôm nhìn ống khói đen ngòm, muốn ra ngoài cắn cổ quá!

Chính lòng căm thù ấy đã khiến họ vượt lên gian khổ, thiếu thốn, không đợi cầm vũ khí, không đợi quần áo, không đợi huấn luyện quân sự, không sợ kẻ thù mạnh, có vũ khí tối tân, có tinh thần lính đánh thuê hung hãn, có là một số người Việt Nam phản bội… quyết tâm xông trận ngay lập tức với vũ khí tự tạo thô sơ: “Mai lửa đánh bằng rơm, cung/ Gươm mòn bằng lưỡi phay”, nghĩa là đánh bằng bất cứ thứ gì, miễn là giết kẻ thù! Không có tấm lòng vì đại nghĩa thì làm sao có cái gan đó được?

Và, khi bước vào trận chiến, chúng thật phi thường:

Đắt quản khua chiêng trống thúc giục, đạp rào rào, xem giặc như không; Chẳng ai sợ Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa lao vào như không có mình.

Kẻ đâm xuyên, kẻ chém ngược, làm cho yêu ma quỷ dị kinh hồn bạt vía; hè trước, bàng sau, tàu sắt, tàu đồng, súng nổ.

Thật là một trận chiến hận thù hùng mạnh và chết người! Những động từ mạnh như “đạp – lướt – xô – lao – ngang – chém ngược…” khiến người đọc hàng trăm năm sau như thấy trước mắt mình khí thế như vũ bão của nghĩa quân. Trong ánh lửa bập bùng, những bắp tay trần lấp lóa, những lưỡi dao thép sáng loáng, những bước chân nện thình thịch, những tiếng gào thét giết giặc…

Trong văn học Việt Nam từ trước đến nay, hiếm thấy một bức tranh hiện thực nào sống động như vậy! Không có bất kỳ ước lệ nào, văn tự và văn miêu tả của nhà Nho đáng quý biết bao! Tại sao một người “xung quanh là bóng tối” lại có thể nhìn rõ như vậy? Tài năng hay tấm lòng? Có lẽ là tất cả!

Chính tinh thần chiến đấu kiên cường của nghĩa sĩ đã làm nên những chiến công đáng được biểu dương. Các em đã tiêu diệt được tên chỉ huy ác ôn, đốt ổ gián điệp, tức là giặc nổi, giặc chìm, giặc thịt, giặc tư tưởng (thầy)… thật ý nghĩa khi những chiến công ấy được làm nên từ những điều hết sức thô sơ vũ khí! Tượng đài đồ sộ ấy lại càng hùng vĩ.

Xa! Họ đã ngã xuống! Sự hy sinh anh dũng của họ đã làm cả miền Nam đau thương:

Đốm sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm trải dài;

Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng to nhỏ.

Bầu trời mờ mịt! Người thương tiếc! Nỗi buồn này thật đáng thương làm sao! Đằng sau cái chết của người anh hùng sẽ là:

Điều đó thật đau đớn! Mẹ già ngồi khóc con, ngọn đèn khuya chập chờn trong lều; Khá lo lắng! Vợ yếu chạy tìm chồng, bóng người trôi trước ngõ.

Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu đã trộn máu và nước mắt để viết nên những câu văn đau lòng như vậy!

Mặc dù Nguyễn Đình Chiểu đã gạt nước mắt để ca ngợi tấm gương hy sinh anh dũng của người lính có trái tim chan chứa tình yêu và tràn đầy ánh trăng: “Sống thác mà đánh giặc, hồn theo xác giúp xác, nguyện trọn đời là phúc muôn đời. trả mà”, tức là những người đó đã chết mà vẫn sống! Nhưng lòng ta vẫn không khỏi ngậm ngùi, đau xót!

Tượng đài bi tráng mà Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên bằng ngòi bút của mình sẽ mãi trường tồn cùng non sông Việt Nam! Đây là tượng đầu tiên của người nông dân đánh giặc! Chúng ta đều biết, từ khi người Việt Nam biết chọc lỗ trên cây để gieo hạt, cũng là lúc phải vót ngọn măng, vót nhọn ngọn tre để chống lại mọi kẻ thù bốn chân, hai chân! Họ là những người chủ thực sự của đất nước. Nhưng trong văn học chính thống trước Nguyễn Đình Chiểu, họ chưa một lần trở thành nhân vật trung tâm! Nay Nguyễn Đình Chiểu đã trả lại thân phận xứng đáng cho những con người chân lấm tay bùn này. Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời văn học nước ta cuối thế kỷ 19 là có sự đóng góp xứng đáng của “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”! “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” mãi mãi là “bài ca về những anh hùng liệt sĩ” (Phạm Văn Đồng).

Xin được hai lần thắp nến tri ân, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, tưởng nhớ nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

van-te-nghia-si-can-giuoc-1.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất – Ngữ văn lớp 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất – Ngữ văn lớp 11 bên dưới để Blog Giới Trẻ có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: gioitre.biz của Blog Giới Trẻ

Nhớ để nguồn bài viết này: Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất – Ngữ văn lớp 11 của website gioitre.biz

Chuyên mục: Văn Học

Xem thêm bài viết hay:  Top 2 bài Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Viết một bình luận